Dịch: Bắc thành địa dư chí lục

Nguyên văn chữ Hán:

Bắc thành địa dư chí lục quyển chi nhất

Thăng long thành:

Long Xuyên tự lục – Thượng quốc Thanh thần Gia Khánh – Hoàng Nại Am trứ: Lê thành tả Yên Tử sơn, hữu Tản Viên sơn, Phú Lương giang hoàn bão, tả hữu thiên nhiên đô hội dã. Phú Lương giang nhất danh Nhị Hà.

Hoàng Minh “Chức phương địa đồ”: An Nam, ĐôngTuyên Quan thành cổ Long Biên thành, hựu danh Đông Đô.

Hoàng Thanh “Ngự phê thông giám tập lãm”: An Nam hữu Đông Tây nhị đô dĩ Giao Châu phủ vi Đông Đô, tức Long Biên thành; dĩ Thanh Hóa phủ vi Tây Đô, tức cổ Cửu Chân thành. Đông Đô y Tuyên, Thao, Đà, Phú Lương, tứ giang vi cố. Thao giang tức Vân Nam Lan Thương giang hạ lưu, kinh An Nam quốc, vi Lâm Thao phủ vị chi Thao giang, hạ diệc viết Tuyên Hóa giang, thượng kì bắc viết Tuyên giang, kì Nam viết Đà giang, hợp lưu xứ viết Tam giang khẩu. Chí Giao Châu giới vi Phú Lương giang.

Án bản quốc Chí lược, thành thủy ư Đường Bá Nghi, Ý Tông thời, Cao Biền vi Tĩnh Hải quân tiết độ xứ, kiến phủ trị, tăng quảng chi. Đại La thành kì tổng danh dã.

Ngã quốc Lý Thái Tổ Thiên Thánh nhị niên thủy tự Hoa Lư định đô vu thử. Hữu long thụy nhân dĩ Thăng Long danh kì thành. Lý hất Lê giai đô vu thử.

Ngã quốc triều bình Tây ngụy (chỉ quân Tây Sơn), Thuận Hóa định đỉnh, ư thử thiết vi Đại trấn thành tổng trấn dĩ chế chi (Thập tam trấn lệ yên). Gia Long tứ niên Ất Sửu lệnh cải tu chi, tăng kì thức khuếch, hựu cải Long vi Long. Cái thủ “Long bình long thịnh” chi nghĩa dã.

Thành chu vi hợp nhất thiên cửu bách ngũ thập bát tầm nhị xích ngũ thốn, thiết dụng thạch chuyên, thành ngoại tuấn hào, thành quan ngũ môn; Đông, Nam, Tây, Bắc, Chính Đông, Chính Nam, Chính Bắc, thiết trung xuyên đậu chế thượng viên hạ phương, thượng trí lâu, thành ngoại trúc giác thành,

Đông Nam môn nội khởi đường viết Hiệp Nghi Vũ, trực lục phòng chưởng ti văn thư cập dịch phát, nguyệt chi nhị thất nhật nhân dân hữu sự, nghệ tiền thân tố.

Thành ngoại thiết Dịch đình (tiền Lê Đường văn đình tiến sĩ …..bảng xứ) Chiếu thư phụng hành niêm quải vu thử. Bắc môn ngung hựu trí trừ công lương chi sở thành nội tức Nùng Sơn.

Phụng kiến hoàng cung chính điện ngũ vũ, tả hữu lục chu vi liêu dĩ tường. Tường khai ngũ môn, hựu khai môn xu dĩ thông nội đình, thiết cấp cập dũng đạo. Phàm cung ngộ đại lễ cập nguyệt chi sóc vọng tại thành cung lại cụ phẩm phục cung hành vọng bái.

Dũng đạo ngoại vi Đoan môn, môn ngạch khắc đoan môn nhị tự. (Lí triều di tích kim nhưng chi môn thượng trí cổ bảng). Kì ngoại thụ bi cái dĩ đình kí kì trúc thành chi thiết dã.

(Bi minh viết: tướng Duy Long Đỗ hình thắng tư tại, Tản Viên thị duy, Phú Lương (tức Nhị Hà) vi đái, ….. đại hữu tác, tư sản khải, nhu vật đệ thiên sơn hà bất cải, hách hách minh mệnh, dung quyến ngã vương, nghĩa lữu tây bình, thiên thanh bắc dương, chi phi tiến tất, kiến dân tỉnh phương, mệnh thần kiến tiết bách ….. dịch dịch, hoàng uy tĩnh trấn, vương độ tăng khuyếch, bảo chướng chi hùng, vĩnh điện ….phong, đãng bình tốn tuần, bức tấy đồng phong, thành dĩ danh hiển, địa dĩ đức long, Nùng sơn Nhị Thủy trường minh công đức.

Thiết kì đài (Nhâm thân niên trúc chuyên cơ cao dư thành đẳng kiến kì trụ cao thất thập ngũ xích, ngộ hữu đại bắc cập hồ vọng nhất quải đại phương chu kì vu kì thượng dĩ vi huy hiệu vân)

Tổng trấn dinh kị đồ gia (thành nội Tây Nam) Ngân trường (kì đài chi tây) Sổ bạ trường (thành nội Đông Nam) kì hữu công khố, pháo trúc khố ( Thành nội Tây), ngục thất (thành chi bắc), Tượng lang (thành đông Nam), Thành cước đông chí nhị hà tân trình nhất khắc quá thử  vi Kinh Bắc Gia Lâm huyện giới, tây chí Sơn Tây Từ Liêm huyện giới, trình nhị khắc.

Thành ngoại

Kì thành tức cổ chi Đại La dã, Chu vi hợp thất thiên thất bách lục bát tầm thành khai nhị tập nhất ô. Môn (môn hữu trúc bạch Yên Hoa …

Dịch nghĩa:

Theo sách: “Long Xuyên Kỉ Lược” do Hoàng Nại Am soạn vào niên hiệu Gia Khánh nhà Thanh. Lê thành bên trái có núi Yên Tử, bên phải có núi Tản Viên, sông Phú Lương bao quanh. Bên trái bên phải thiên nhiên đều chầu về. Sông Phú Lương còn có tên là sông Nhị Hà.

Theo sách: “Hoàng minh chức phương địa đồ” thành Đông Quan ở đất An Nam xưa là thành Long Biên, còn được gọi là Đông Đô.

Theo sách: “Hoàng Thanh ngự phê thông giám tập lãm”: đất An Nam có Đông, Tây 2 đô. Lấy phủ Giao Châu làm Đông Đô tức thành Long Biên xưa, lấy phủ Thanh Hóa làm Tây Đô tức thành Cửu Chân xưa. Đông Đô dựa vào 4 sông: Tuyên, Thao , Đá, Phú lương làm hào bền vững. Sông Thao tức là hạ lưu của sông Lan Thương ở đất Vân Nam, chảy qua An Nam đến phủ Lâm Thao nên gọi là sông Thao, cũng còn gọi là sông tuyên Hóa. Phần phía bắc thượng nguồn gọi là sông Tuyên, phần phía Nam gọi là sông Đà, chỗ hợp lưu của 3 con sông gọi là cửa 3 sông, đến địa giới của Gaio Châu thì gọi là sông Phú Lương.

Theo “Chí Lược” của Bản Quốc: thành bắt đầu được xây dựng vào thời Đường Bá Nghi Ý Tông, Cao Biền giữ chức Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đã dựng phủ trị mở rộng thành. Thành Đại La là tên gọi chung của vùng này.

Vua Lý Thái Tổ nước ta năm thứ 2 niên hiệu Thiên Thánh mới từ Hoa Lư định đô ở đây. Có điềm rồng bay lên, nhân đó lấy Thăng Long để đặt tên cho thành. Từ triều Lý đến triều Lê đều định đô ở đó.

Quốc triều nước ta Bình Tây Ngụy định đô ở Thuận Hóa. Rồi đặt ra chế độ tổng trấn của đại trấn thành, 13 trấn lệ thuộc. Năm Ất Sửu niên hiệu Gia Long năm thứ 4 lệnh tu sửa thành, mở mang độ rộng, lại đổi “long” thành “long”, có lẽ là lấy cái ý thăng bình long thịnh vậy.

Chu vi của thành là 1958 tầm, 2 thước, 5 tấc; tường dùng gạch ngói để xây, ngoài thành có đào hào; thành mở 5 cửa: Đông Nam, Tây Nam, Chính Đông, Chính Nam, Chính Bắc. Trên tường có lỗ châu mai, được làm theo kiểu trên tròn dưới vuông. Phía trên có đặt lầu quan sát. Phía ngoài có đắp góc thành.

Cửa Đông Nam có dựng 1 nhà có tên là Hiệp Nghị Đường đặt 6 phòng để cai quản việc văn thư và phát dịch. Ngày mồng 2 và mồng 7 hàng tháng nhân dân có việc gì thì đến trước cửa trình báo.

Ngoài thành thì đặt dịch đình (nhà khách) – (thời Lê trước là Quảng Văn Đình), khi có chiếu thư thì được niêm yết ở đây. Đằng cửa Bắc lại đặt các kho lương. Thành nội chính là vùng núi Nùng.

Lại vâng lệnh nhà vua dựng Hoàng Cung Chính Điện, gồm 5 nhà, hai bên trái phải có 6 dẫy nhà, cả khu được bao quanh bởi 1 bức tường. Tường mở 5 cửa, lại mở cổng kháo thông với nội đình và thông với đường dũng đạo. phàm lúc nào gặp Đại lễ là tiết mồng 1, rằm hàng tháng thì các quan trong thành phải đầy đủ phẩm phục để bái vọng về cung điện.

Phía ngoài của con đường dũng đạo là Đoan Môn, trên trán của Đoan Môm đắp 2 chữ “ Đoan Môn”. Đây là di tích của triều Lý, bây giò vẫn thế, trên cửa của Đoan Môn có đặt 1 lầu trống. Phía bên ngoài dựng bia, đại khái là dựa vào cái đình để ghi lại việc dựng thành. Bia Minh viết:

Ngắm nhìn Long Đỗ, hình thắng ở đây, Tản Viên là cái cương, Phú Lương 1 dải. Các đời nổi lên ở đây sáng sủa. triều đại đổi thay nhưng non sông còn mãi. Mệnh trời chiếu sáng giúp cho vua ta, quân nghĩa dẹp tây, tiếng trời chấn Bắc, 6 phen thăm Bắc Hà, để xem dân và xét phong tục, sai thần giữ chức, trông coi vùng bên ngoài, tôi ở xa cúi nhìn chịu theo cái sự tính toán điêỳ khiển từ TƯ, sửa sang thành này, xét lại việc xưa. Đổi mới qui củ, 4 bề sừng sững, đời đời to lớn, hoàng uy còn mãi, vương độ mở mang, giữ gìn bền vững, nơi giao phong này còn mãi mãi, đạo nhà vương sáng mãi, nơi nwoi cùng thống nhất, thành vì có cái tên này mà trở nên hiển hách, đâtxs có cái đức này mà trở nên thịnh trị. Núi Nùng sông Nhị ghi mãi thánh công.

Dựng kỳ đài: Năm Nhâm Thân xây nền gạch cao bằng thành, dựng cột cờ 75 thước, ngày Đại lễ, ngày sóc thì treo lá cờ vuông lớn màu đỏ để làm biểu tượng.

Phía bên trái của Hoàng Cưng đặt Dinh Tổng Trấn và Nhà Bản Đô (ở phía Tây Nam thành), xưởng đúc tiền ở phái tây cột cờ, nơi để sổ quân ở phía Đông Nam trong thành. Bên trái có kho chung, có kho thuốc pháo ở phía tây thành nội, ngục thất ở phía Bắc thành nội, chuồng voi ở phía Đông Nam thành.

Từ chân thành đi ra phía Đông thì đến sông Nhị Hà chưa hết 1 khắc, qua đó đến địa giới huyện Gia Lâm Kinh Bắc. Phía Tây đi đến huyện Từ Liêm, Sơn Tây đi hết 2 khắc. Phía Nam đi đến Sơn Nam thượng, huyện Thanh Trì hết 3 khắc. Phía Bắc đi đến huyện Từ Liêm, Sơn Tây đi hết 2 khắc.

Thành ngoại là thành Đại La xưa gồm 7768 tầm. Thành có 21 cửa ô. Cửa ô là: Trúc Bạch, An hoa, Hòe Nhai, Trấn Quốc….đó là địa hạt của Thọ Xương Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức. Trong đó có đóng 5 quân.

About these ads
  1. No trackbacks yet.

Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 216 other followers

%d bloggers like this: